CHUYÊN ĐỀ 4

THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC BIỆN PHÁP

PHÒNG NGỪA, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DI CƯ TỰ DO

  1. Thực trạng tình hình

Mặc dù các cấp, các ngành của huyện, tỉnh thường xuyên tuyên truyền, vận động, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, tuy nhiên trong thời gian qua, tình hình di cư tự do trên địa bàn toàn tỉnh vẫn diễn ra phức tạp, tập trung chủ yếu ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới, nơi điều kiện sống và sinh hoạt của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn (nhất là trong vùng đồng bào dân tộc Mông).

Tình trạng di cư tự do đã gây không ít khó khăn cho công tác quản lý của cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp gây mất ổn định ANTT trên địa bàn.

Trong năm 2015 trên địa bàn tỉnh Sơn La phát hiện: 135 hộ = 610 khẩu di cư tự do, trong đó: Di cư nội tỉnh: 27 hộ = 117 khẩu; Di cư đi tỉnh khác: 78 hộ = 342 khẩu; Di cư sang Lào: 18 hộ = 88 khẩu; Di cư đi nước khác: 05 hộ = 31 khẩu; Tỉnh khác di cư đến: 07 hộ = 32  khẩu. Tiếp nhận 13 đợt, 34 đối tượng do Lào, Trung Quốc trao trả.

Trong quý I năm 2016 (từ 15/11/2015 đến ngày 10/02/2016) phát hiện 34 hộ = 162 khẩu di cư tự do, trong đó: Di cư nội tỉnh: 10 hộ = 47 khẩu; Di cư đi tỉnh khác: 15 hộ = 58 khẩu; Di cư sang Lào: 03 hộ = 15 khẩu; Di cư đi nước khác (Myanmar) : 05 hộ = 23 khẩu; Lào di cư sang Việt Nam: 01 hộ = 09 khẩu

  1. Hậu quả, tác hại

– Di cư tự do sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý địa bàn, dân cư của cấp ủy, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng cả nơi di cư đi và nơi di cư đến; ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách dân tộc, phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước; gây xáo trộn sinh hoạt trong cộng đồng khu dân cư, mất ổn định tình hình ANTT trên địa bàn.

– Gây mâu thuẫn, mất đoàn kết giữa người di cư và người không di cư, nhất là trong anh, em, họ hàng dòng tộc và trong thôn, bản. Đây là điều kiện để các thế lực thù địch và phần tử xấu lợi dụng chia rẽ, lôi kéo đồng bào tham gia vào hoạt động tuyên truyền lập“Nhà nước ly khai, tự trị”; và các hoạt động vi phạm pháp luật khác.

– Cuộc sống của những người di cư sẽ ngày càng khó khăn, do dân di cư tự do đến ở một số nơi không được chính quyền sở tại quan tâm, tạo điều kiện để họ hòa nhập với nơi ở mới, hơn nữa khi số người dân tới tăng lên, ngoài mức quy hoạch của địa phương nơi đến sẽ dẫn tới quá tải, thiếu đất sản xuất, thiếu trường học, bệnh viện… sẽ gây nên tình trạng đời sống bà con nhân dân tạm bợ, đói nghèo, thiếu lương thực hoặc đời sống không được đảm bảo. Người dân tộc Mông thường nói: “Giàu di cư thì nghèo, nghèo di cư thì chết”.

– Việc di cư khi cuộc sống và nơi ở không ổn định dẫn tới phá rừng làm nương rẫy, tàn phá tài nguyên và ảnh hưởng tới môi trường sống, hậu quả là biến đổi khí hậu, thiên tai, hạn hán hết sức nghiêm trọng và khó lường.

  1. Nguyên nhân

– Do địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, điều kiện sống còn gặp nhiều khó khăn, đồng bào còn thiếu đất ở và đất sản xuất.

– Do ảnh hưởng tâm lý, tập quán du canh, du cư của đồng bào cộng với trình độ canh tác lạc hậu, phụ thuộc vào sự màu mỡ của đất đai. Khi đất bạc màu thi di cư.

– Do mối quan hệ đồng tộc, thân tộc cùng với đặc điểm tâm lý “dễ tin, dễ nghe” của đồng bào nên dễ bị tác động, lôi kéo bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch và phần tử xấu.

– Việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở vùng đồng bào dân tộc nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập. Tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân… chưa được các cấp chính quyền địa phương kịp thời giải quyết.

– Công tác nắm tình hình, quản lý nhân hộ khẩu ở một số địa bàn chưa kịp thời, chưa chặt chẽ.

  1. Giải pháp giải quyết vấn đề di cư tự do

– Cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế, xã hội, từng bước nâng cao đời sống cho đồng bào (thực hiện chính sách dân tộc, xóa đói giảm nghèo, sắp xếp lại dân cư, quy hoạch đất sản xuất…); xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng, đảm bảo an sinh xã hội, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội qui, hương ước của địa phương nơi cư trú; yên tâm lao động sản xuất, ổn định cuộc sống trên quê hương.

– Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân với nội dung phong phú, hình thức phù hợp, hiệu quả; triển khai các phương án phòng ngừa, ngăn chặn di cư tự do, nhất là di cư sang Lào. Phát hiện và xử lý nghiêm những đối tượng kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc Mông di cư tự do nhằm tập hợp lực lượng thành lập “Nhà nước ly khai, tự trị”.

– Tăng cường quản lý hành chính, quản lý nhân, hộ khẩu, tạm trú, tạm vắng chặt chẽ, nắm chắc di biến động trong dân cư, lao động ở các địa bàn giáp ranh biên giới.

– Phát động sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ, xây dựng thế trận An ninh nhân dân vững mạnh toàn diện, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc Sơn La nâng cao cảnh giác cách mạng, yên tâm lao động sản xuất, ổn định cuộc sống, thoát nghèo và từng bước làm giàu trên quê hương, không nghe theo luận điệu tuyên truyền của kẻ xấu, không di cư tự do.

Tải tài liệu về máy

Top