CHUYÊN ĐỀ 3

MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ QUẢN LÝ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ QUẢN LÝ XUẤT, NHẬP CẢNH

  1. Khi gia đình có người thân là người nước ngoài, đến ở thăm gia đình, phải hướng dẫn người thân của mình là nước ngoài mang các giấy tờ xuất nhập cảnh (Hộ chiếu, thị thực hoặc giấy tờ thay hộ chiếu) đến khai báo với Công an viên bản, Công an xã, phường, thị trấn để khai báo tạm trú với chính quyền địa phương theo Điều 33 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
  2. Người nước ngoài muốn vào khu vực Biên giới, trước khi vào địa bàn phải có đơn đề nghị của thân nhân người nước ngoài hoặc tổ chức đứng ra bảo lãnh, có xác nhận của Trưởng Công an xã, phường, thị trấn cùng với thân nhân người nước ngoài đến cơ quan có thẩm quyền (Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh) đề nghị cấp giấy phép vào khu vực biên giới theo đúng quy định của pháp luật. Trong thời gian tạm trú ở địa phương phải khai báo tạm trú theo Điều 33 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam
  3. Tình hình xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, di cư sang Lào.

Trong những năm gần đây, số lượng người dân Sơn La xuất cảnh sang Trung Quốc, sang Lào làm thuê có chiều hướng gia tăng, một số đối tượng ở các tỉnh khác đến lôi kéo với nhiều thủ đoạn như: sang đi lao động nhàn hạ với mức lương cao, công việc ổn định phù hợp với người dân, việc đi lại thuận lợi, dễ dàng, khi đi có xe ô tô đưa đón, được ưu đãi về nhiều mặt… một số người dân, do nhận thức hạn chế, tin theo lời dụ dỗ của các đối tượng, đã xuất cảnh trái phép đi Trung Quốc theo các đường tiểu mạch giữa Việt Nam – Trung Quốc hoặc đi bằng thông hành biên giới sau đó ở lại Trung Quốc lao động làm thuê, nhiều trường hợp bị lừa bán sang Trung Quốc gây ảnh hưởng không nhỏ tới ANTT trên địa bàn, thực tế đã xảy ra tại địa bàn huyện Bắc Yên; Phù Yên.

Việc xuất cảnh trái phép, di cư sang Lào tuy những năm qua không nhiều nhưng tình trạng di cư tự do của đồng bào dân tộc Mông diễn ra hết sức phức tạp. Một phần là do địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, điều kiện sống, điều kiện giao thông rất khó khăn, ít có điều kiện giao lưu, thông thương mọi mặt với các vùng dân tộc khác nên vùng đồng bào dân tộc Mông cư trú thường gặp khó khăn về nhiều mặt. Trình độ của đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, phong tục tập quán lạc hậu chưa thực sự bị loại bỏ, trong khi đó tập quán du canh, du cư vẫn còn tồn tại trong tiềm thức một bộ phận người dân. Với đặc điểm dễ tin, dễ ngờ nên một bộ phận dân tộc Mông dễ bị kẻ xấu lợi dụng, tác động, kích động, lôi kéo đi sang Lào; với luận điệu: đất rộng, người thưa, đất đai mầu mỡ, được phía bạn Lào tạo điều kiện để làm ăn… do đó đã đánh trúng và tâm lý đồng bào, trong khi ở Việt Nam điều kiện đất đai chật hẹp, đi lại còn nhiều khó khăn, kinh tế nghèo khó đã dẫn đến đồng bào dân tộc Mông di cư tự do đi Lào khá nhiều.

Thực tế trên đã gây tác động ảnh hưởng không nhỏ tới công tác Quản lý địa bàn quản lý nhân khẩu của các cấp chính quyền nhất là cấp xã, bản; khi sang đất bạn Lào do nhập cảnh, cư trú trái phép nên phần lớn đã bị phía chính quyền Lào bắt giữ và trao trả, khi quay trở về quê cũ mặc dù được tỉnh, huyện, xã quan tâm, hỗ trợ xong cuộc sống gặp nhiều khó khăn; do vậy ổn định, định canh, định cư, phát triển sản xuất đảm bảo cuộc sống luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu.

  1. Tình hình tội phạm lợi dụng việc xuất cảnh để mua bán người.

Nạn nhân bị lừa bán sang Trung Quốc (dưới nhiều hình thức và thủ đoạn tinh vi), số đối tượng lừa đảo, buôn bán người hoạt động có sự câu kết giữa các đối tượng ở trong nước với đối tượng ở nước ngoài (là người Trung Quốc, hoặc là người Việt Nam đang ở Trung Quốc, người ở tỉnh khác sẵn có mối quan hệ với các đối tượng ở Trung Quốc), các đối tượng này thường đi đến các bản vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế để tìm những phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trình độ văn hóa thấp; hạn chế về hiểu biết xã hội, không có việc làm ổn định; chúng dùng thủ đoạn là tạo lòng tin, hứa hẹn tìm việc làm có thu nhập cao hoặc lấy làm vợ có cuộc sống sung sướng…sau đó tổ chức đưa người xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc qua các đường tiểu mạch hoặc tổ chức xuất cảnh sang Trung Quốc bằng giấy thông hành do cơ quan Công an có đường biên giới giáp với Trung Quốc rồi bán người cho các đối tượng bên Trung Quốc (mua về làm vợ; hoặc bán cho các chủ nhà chứa, các chủ có sử dụng lao động…). Hậu quả rủi ro đến với người dân bị lừa bán sang Trung Quốc là rất lớn, thực tế đã xảy ra: Bị bắt giữ; bị chủ ngược đãi, bị quỵt lương, bị bán làm vợ cho cả gia đình, bị bán vào các động mại dâm… Một số phụ nữ khi bị phía Trung Quốc trao trả, thông báo đã bị HIV – AIDS… nhiều trường hợp không có cơ hội quay trở về Việt Nam, về nhà.

  1. Các quy định của Nhà nước xử lý hành vi vi phạm về quản lý người nước ngoài; xuất cảnh, nhập cảnh trái phép

5.1. Người nước ngoài đi lại trên lãnh thổ Việt Nam mà không mang theo hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

5.2. Người nước ngoài không khai báo tạm trú theo quy định thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

5.3. Người cho người nước ngoài nghỉ qua đêm nhưng không khai báo tạm trú, không hướng dẫn người nước ngoài khai báo tạm trú thì bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

5.4. Người nước ngoài vi phạm quy chế về khu vực biên giới thì bị xử lý hành chính: phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Trường hợp phạm tội, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm; cấm cư trú từ một 01 năm đến 05 năm.

5.5. Người vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; người nước ngoài ở lại Việt Nam trái phép thì bị xử lý hành chính: phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Trường hợp phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

5.6. Người tổ chức, môi giới, giúp đỡ người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép thì bị xử lý hành chính: phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Trường hợp phạm tội, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 15 năm; ngoài ra, còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5.7. Người cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép thì bị phạt tù từ 02 năm đến 20 năm.

  1. Để ngăn chặn, hạn chế việc công dân xuất cảnh trái phép hoặc bị lừa bán qua biên giới, Cấp uỷ, chính quyền địa phương và các ngành, đoàn thể cần:

– Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực xuất nhập cảnh; tuyên truyền các thủ đoạn dụ dỗ, lôi kéo, mua bán người của các đối tượng; tuyên truyền về hậu quả, tác hại của việc bị lừa bán đi nước ngoài để nhân dân cảnh giác, chủ động phòng ngừa, đấu tranh.

– Nắm chắc tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, phát hiện kịp thời các dấu hiệu đối tượng ở địa phương khác đến móc nối, lôi kéo người dân di cư tự do, xuất cảnh trái phép, hoạt động mua bán người… thông báo cho các lực lượng chức năng đấu tranh, ngăn chặn, xử lý kịp thời,

Tổ chức rà soát, thống kê số công dân trên địa bàn xuất cảnh đi Trung Quốc, Lào dưới các hình thức, từ đó chủ động khai thác số đã trở về để nắm phương thức, thủ đoạn của các đối tượng để đề ra kế hoạch đấu tranh, ngăn chặn và trong công tác phòng ngừa.

Các đơn vị nghiệp vụ Công an tỉnh, Công an huyện tập trung đấu tranh với các hoạt động lôi kéo, đưa người xuất cảnh trái phép ra nước ngoài nói chung và đi Trung Quốc, Lào lao động làm thuê bất hợp pháp nói riêng; các đối tượng mua bán người; đồng thời thông báo các thủ đoạn hoạt động của đối tượng để quần chúng nhân dân biết, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn không mắc mưu kẻ xấu.


Tải tài liệu về máy

Top